CTXH

Thứ hai, 21/04/2014
Trang chủ Sự kiện Tin công tác xã hội An sinh xã hội: Mô hình Nhà nước phúc lợi hay Nhà nước xã hội?

An sinh xã hội: Mô hình Nhà nước phúc lợi hay Nhà nước xã hội?

Email In PDF.

indexVới nội hàm ngày càng rộng và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định, phát triển kinh tế-chính trị-xã hội của một quốc gia, an sinh xã hội (ASXH) không ngừng được hoàn thiện trong quá trình phát triển của nhận thức và thực tiễn xã hội trên thế giới.

Việc mở rộng phạm vi, đối tượng và chức năng của ASXH trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đặc biệt từ thế kỷ thứ XIX khi nền sản xuất công nghiệp bắt đầu phát triển ở các quốc gia Châu Âu. Cũng từ đó, hệ thống các quan điểm, trường phái của các nhà lý luận và thực hành ASXH phát triển phong phú. Từ tổng kết lý luận và thực tiễn phát triển hệ thống ASXH trên thế giới đã đúc kết được hai trường phái lý thuyết với nhiều điểm trái ngược nhau hình thành nên hai mô hình là Nhà nước xã hội Nhà nước phúc lợi. Về lý thuyết, một mô hình chỉ thuần tuý quan tâm công bằng giữa đóng góp và hưởng lợi, một mô hình hướng đến bình đẳng tuyệt đối (đồng đều) trong thụ hưởng.

Trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà nước ta khẳng định chủ trương tiếp tục đổi mới, thực hiện định hướng phát triển bền vững thì câu hỏi về việc lựa chọn chủ thuyết hay mô hình hệ thống ASXH nào là nội dung rất cần được quan tâm, thảo luận một cách thấu đáo. Bài viết này giới thiệu một số nội dung liên quan đến hai trường phái cơ bản về ASXH nhằm cung cấp cơ sở, đề dẫn cho các trao đổi, thảo luận lựa chọn mô hình hệ thống ASXH thích hợp đối với nước ta.

Mô hình Nhà nước xã hội được đề xuất bởi Otto Von Bismarck (Đức)

Vào năm 1881, Thủ tướng Đức Otto Von Bismarck (1815-1898) là người đề xướng thiết kế BHXH bắt buộc trên cơ sở các tổ chức tự phát của người lao động hoạt động tương trợ lẫn nhau đang tồn tại. Văn bản pháp lý đầu tiên là Luật Bảo hiểm Y tế (1883), tiếp theo năm 1884 là Luật Bảo hiểm Tai nạn Lao động với sự tham gia bắt buộc đối với người sử dụng lao động. Năm 1889, Bảo hiểm hưu trí được thông qua trở thành trụ cột chính về ASXH hỗ trợ người lao động và gia đình họ trong các trường hợp không còn khả năng lao động hoặc tử tuất. Nguyên tắc bảo hiểm là chủ đạo với các quỹ thành phần được phát triển dựa trên đóng góp và cũng chỉ có những thành viên tham gia được hưởng lợi. Nước Đức trở thành quốc gia đầu tiên thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội. Mặc dù quan điểm BHXH theo trường phái Bismarck cơ bản không được tài trợ từ Nhà nước nhưng Nhà nước đứng ra cam kết bảo đảm nếu các quỹ BHXH bị mất khả năng thanh toán. Hệ thống chính sách ASXH theo trường phái Bismarck mặc dù bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh thế giới nhưng vẫn tiếp tục phát triển mang dấu ấn cá nhân và sự mở rộng của loại hình BHXH theo hướng ngày càng toàn diện. Sự kết nối của một hệ thống ASXH với cơ chế hoạt động dựa trên trách nhiệm thoả thuận chung của đại diện giới chủ và công đoàn (đóng vai trò đối tác xã hội) trở thành nền tảng của nước Đức với mô hình Nhà nước xã hội.

Tóm tắt lại, theo trường phái Bismarck thì ASXH được thực hiện dựa trên trụ cột chính là BHXH gắn với yếu tố lao động (người lao động). Chế độ BHXH được áp dụng bắt buộc với một mức lương cụ thể; từ đó mức đóng, mức trả được tính căn cứ vào mức lương. Quỹ BHXH được thành lập và quản lý bởi tổ chức xã hội.

Mô hình Nhà nước phúc lợi theo quan điểm của William Henry Beveridge (Anh)

Ngược lại với trường phái Bismarck, trường phái của William Henry Beveridge (1879-1963) cho rằng ASXH phải bao phủ toàn diện, với mức chi trả như nhau và được quản lý tập trung, thống nhất. Năm 1942, William Henry Beveridge lãnh đạo uỷ ban cải cách hệ thống ASXH Anh đã xác lập quan điểm về "xã hội thống nhất" trong thời kỳ chiến tranh nêu tại báo cáo về cải cách và tái cấu trúc hệ thống ASXH. Theo quan điểm của Beveridge, các nguyên tắc để cải cách hệ thống cũ là việc thống nhất, phổ cập và toàn diện. Đề xuất cải cách của Beveridge đã được chấp thuận và trở thành nội dung cơ bản của Luật Bảo hiểm quốc gia (1946). Từ luật này, hệ thống ASXH phổ cập công cộng đã được xây dựng, giúp người lao động đối phó với các "thiếu hụt", gián đoạn về thu nhập do mất việc làm, bệnh tật hoặc già cả. Đề xuất ban đầu của Beveridge không khống chế thời gian hưởng trợ cấp nhưng Chính phủ không chấp nhận vì cho rằng việc không giới hạn thời gian hưởng lợi sẽ dẫn đến làm gia tăng lạm dụng. Cũng do mức hưởng lợi không quan hệ với mức đóng nên người lao động chỉ đóng với mức tối thiểu, hậu quả là dần dần nguồn quỹ giảm, mức hưởng cũng không còn bảo đảm hỗ trợ cuộc sống hộ gia đình. Cuối cùng, từ ý tưởng rất “hấp dẫn” theo hướng bảo hiểm quốc gia, thực tế hệ thống ASXH hoạt động chủ yếu dựa vào sự tài trợ của Nhà nước. Mặc dù vậy, các quan điểm của Beveridge đã góp phần hình thành nên mô hình lý thuyết về Nhà nước phúc lợi.

Cho đến nay, ASXH đã phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới với nhiều mô hình khác nhau dựa trên đặc điểm, tình hình kinh tế, xã hội, văn hoá cụ thể của mỗi nước. Về cơ bản không có Nhà nước nào phát triển hệ thống ASXH theo nguyên mẫu thuần túy mà kết hợp ở mức độ khác nhau từ hai trường phái.

Bảng so sánh một số khía cạnh về hai trường phái ASXH

Trường phái

 

So sánh

Otto Von Bismarck

Mô hình Nhà nước xã hội

William Henry Beveridge

Mô hình Nhà nước phúc lợi

Phạm vi

Người lao động

Phổ cập toàn diện

Nguồn

Đóng góp dựa vào thu nhập

Phân phối từ thuế (hay ngân sách Nhà nước)

Mức hưởng

Dựa vào thu nhập đã đóng

Một mức tối thiểu chung (không phụ thuộc mức đóng)

Tổ chức thực hiện

Các tổ chức ở cộng đồng hoặc khu vực tư nhân tham gia

Khu vực công hữu

Vai trò của Nhà nước

Gián tiếp với vai trò người bảo trợ

Trực tiếp tổ chức và quản lý

Hàm ý về phát triển hệ thống ASXH  ở nước ta

Chúng ta đều biết, bản chất của mọi Nhà nước là bảo vệ các giá trị căn bản mà quốc gia đó hướng đến như độc lập dân tộc, người dân được sống trong tự do, hạnh phúc. Một quốc gia mạnh khi Nhà nước bảo vệ được các giá trị này, ngược lại các nguy cơ bất ổn chính trị, xã hội nếu người dân thường xuyên không duy trì được mức sống tối thiểu, bị bần cùng hoá nghĩa là giá trị căn bản của quốc gia không được thực hiện. Thêm vào đó, thông qua việc áp dụng các cơ chế điều tiết, phân phối lại thu nhập giữa các khu vực kinh tế, các vùng kinh tế và các nhóm dân cư, ASXH góp phần giữ gìn sự ổn định về xã hội- kinh tế- chính trị của đất nước, giảm phân hoá giàu nghèo, giảm bất bình đẳng giới, tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng xã hội, giữa các nhóm xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững. Vì vậy, hệ thống chính sách ASXH đóng vai trò là trụ cột quan trọng hàng đầu trong hệ thống chính sách ở mỗi quốc gia và cũng là chỉ báo về mức độ phát triển của một xã hội.

Tuy nhiên, để hệ thống ASXH thực sự là trụ cột chính sách quốc gia thì cần phải có một mô hình hệ thống ASXH đồng bộ, phù hợp với chế độ chính trị, mô hình Nhà nước và thể chế kinh tế mà quốc gia đó theo đuổi. Đối với Việt Nam, từ khi thống nhất đất nước, mô hình hệ thống ASXH đã có những chuyển biến lớn. Trong thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mô hình ASXH thực chất là thực hành mô hình Nhà nước phúc lợi. Sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, việc bảo đảm ASXH ở nước ta tuy được quan tâm nhưng chưa được phát triển một cách có hệ thống. Bước vào giai đoạn 2011-2020, Đảng và Nhà nước ta khẳng định con đường tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội (XHCN) đồng thời lựa chọn mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế-xã hội vừa tuân theo nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường vừa hướng đến các giá trị cốt lõi của CNXH. Nói cách khác đó là “sử dụng công cụ thị trường thực hiện mục tiêu xã hội”. Với những điều kiện đó, mô hình hệ thống ASXH của Việt Nam sẽ phải là mô hình kết hợp vừa có đặc trưng của Nhà nước xã hội và Nhà nước phúc lợi bởi có như vậy mới thực hiện được đồng thời ba nguyên tắc là chia sẻ, công bằng và trách nhiệm.

Nguyên tắc đoàn kết, tương trợ và chia sẻ: Nguyên tắc này thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội, giữa Nhà nước với các nhóm xã hội, nó nhấn mạnh vai trò của sự tương trợ trong nội bộ và giữa các nhóm xã hội. Theo đó hệ thống ASXH hướng đến đảm bảo nhu cầu tối thiểu thông qua việc tổng hợp và tái phân phối nguồn lực.

Nguyên tắc công bằng và bền vững: Nguyên tắc này thể hiện mối quan hệ lâu dài giữa trách nhiệm và quyền lợi, giữa đóng góp với hưởng lợi khuyến khích mọi người dân tham gia vào hệ thống, bảo đảm tính thoả đáng, thích đáng trong từng chính sách, chương trình.

Nguyên tắc tăng cường trách nhiệm của các chủ thể: Nguyên tắc này nhằm khuyến khích các thành phần trong xã hội tham gia và thực hiện chính sách ASXH; Thúc đẩy các nỗ lực của bản thân người dân, gia đình, cộng đồng trong việc bảo đảm ASXH; giảm thiểu sự lệ thuộc theo hướng Nhà nước chỉ cung cấp những hỗ trợ mà không thay thế nỗ lực của cá nhân.

TS. Bùi Xuân Dự

 
deutsche pornos deutsche sexfilme deutsche pornofilme deutsche porno turk porno olgun porno